11
Hôm sau dự tiệc, bà dì luôn một lòng muốn gả con đỡ đầu cho Hách Viễn Chu mỉa tôi “đũa mốc chòi mâm son” ngay trước mặt.
Trên đường về, ngồi trong xe, tôi khẽ hỏi.
“Anh cũng thấy em làm anh mất mặt phải không?”
Hách Viễn Chu định nắm tay tôi, nhưng tôi né.
“Minh Nguyệt, đừng thế.
Dì anh vốn là người như vậy, em đừng bận lòng.”
“Thế còn mẹ anh?
Sao bà cũng phải nói những lời như thế?
Sao bà bài xích đến vậy, chê ẩm thực quê em khó ăn, chê em nói năng có giọng…
Bảy năm rồi, bà vẫn đối xử với em như thế sao?
Hách Viễn Chu, chẳng lẽ em không tính là người nhà Hách?”
“Có lẽ mẹ chỉ mong em sớm thích nghi với mọi thứ ở đây thôi.”
Tôi không nói thêm một lời.
Cố nhọc nhằn rút mình khỏi cảm xúc.
…
Đêm đó, tôi và Hách Viễn Chu cãi nhau dữ dội.
Tôi vừa khóc vừa cười mà hỏi anh.
“Tại sao anh chưa từng đứng về phía em?
Trước mặt mẹ anh, trước mặt họ hàng bằng hữu của anh, anh luôn để em một mình hứng hết mọi lời mỉa mai…”
Hách Viễn Chu giật cà vạt, mặt lộ vẻ mệt mỏi.
“Minh Nguyệt, lẽ ra chúng ta không nên ở bên nhau ngay từ đầu?”
Uất ức tích tụ mấy năm bùng nổ trong khoảnh khắc.
“Em muốn không nhiều, em chỉ mong người nhà anh xem em như một người bình đẳng, thế cũng không được sao?”
Nước mắt làm mờ tầm mắt tôi, Hách Viễn Chu im rất lâu rồi nói.
“Minh Nguyệt, trước đây em đâu như vậy…”
Dẫu yêu sâu đậm, đôi khi người ta cũng buột miệng tàn nhẫn.
Hôm ấy, chúng tôi nhìn nhau rất lâu, thấy người mình từng yêu như biến thành kẻ khác.
…
Sau hôm đó, tôi và Hách Viễn Chu rơi vào chiến tranh lạnh.
Anh thường ở công ty không về, tôi dọn sang phòng khách.
Dù cùng ngồi một bàn ăn, chúng tôi hầu như không trò chuyện.
Mẹ Hách Viễn Chu thấy vậy lại mừng.
Bà bắt đầu thường xuyên sắp đặt cho Hách Viễn Chu “tình cờ gặp” các tiểu thư danh môn.
Một lần tụ họp gia đình, bà thậm chí trước mặt tôi nắm tay con gái một nhà ngân hàng mà cười nói.
“Viễn Chu nhà chúng tôi mải mê sự nghiệp quá, bên cạnh chẳng có một hiền thê biết lạnh biết nóng.”
Tôi chờ mãi vẫn không nghe Hách Viễn Chu mở lời, chỉ lặng lẽ ngồi cắt món ăn trên đĩa.
Tiếng dao nĩa lướt qua sứ sắc lạnh.
Ý định ly hôn không sao ngăn nổi nữa.
…
Buổi tối, tôi tới thư phòng của Hách Viễn Chu.
Trong hai tháng chiến tranh lạnh, đây là lần đầu tôi chủ động tìm anh.
“Chúng ta ly hôn đi.”
Tôi bình tĩnh mở lời, cố tỏ ra mình không nói trong cơn bốc đồng.
Hách Viễn Chu ngẩng đầu, chau mày, bảo tôi đừng nói lời nóng giận.
“Không phải giận dỗi.”
Tôi đặt thỏa thuận ly hôn do luật sư soạn sẵn lên bàn.
“Em đã suy nghĩ nghiêm túc.”
Sắc mặt Hách Viễn Chu càng lúc càng trầm.
“Nếu em ly hôn với anh, chắc chắn em không thể mang con đi.”
“Em đúng là không mang đi được, nhưng ở Hách gia con sẽ có cuộc sống tốt hơn, em chưa từng định đưa con đi.”
“Minh Nguyệt.”
Hách Viễn Chu kìm nén nhìn tôi.
“Em biết mình đang nói gì không?”
“Rõ hơn ai hết.”
Tôi nhìn thẳng vào mắt anh.
“Những năm qua, em sống như một cái bóng, bây giờ em muốn trở lại là chính mình.”
Hách Viễn Chu nắm tay tôi.
“Chỉ vì dạo này anh bận?
Vì mẹ anh nói vài câu em không muốn nghe, em liền hủy hoại cuộc hôn nhân của chúng ta?”
Tôi giật tay ra, lùi một bước.
“Không phải vì những chuyện cụ thể ấy, chưa từng là vì những chuyện ấy.
Hách Viễn Chu, anh không thấy hôn nhân của chúng ta quá ngột ngạt sao?
Em vĩnh viễn không thể trở thành ‘Hách phu nhân’ như các người trông đợi, còn những người quanh anh cũng vĩnh viễn không bỏ được định kiến với em…”
Tôi hơi ngẩng đầu, cố không để nước mắt rơi.
“Vì cuộc hôn nhân này, cả hai chúng ta đã thay đổi quá nhiều, hoàn toàn đi ngược với ý nguyện hạnh phúc ban đầu.
Hãy buông tha cho nhau, đừng giày vò nhau nữa…”
Tôi không muốn chút tình cảm sau cùng cũng bị mài mòn sạch.
Tôi không muốn yêu cho đến cuối cùng lại hóa thành hận.
Thà chia tay khi còn chưa quá muộn, còn hơn kéo dài để rồi cả hai cùng hối tiếc.
Hách Viễn Chu thế nào cũng không chịu đồng ý.
Tôi nhìn sâu vào mắt anh.
Trong đó có bất lực thật, có níu giữ cũng thật.
Nhưng thật hơn cả là nỗi khổ của hai chúng tôi.
Cuộc hôn nhân này biến chúng tôi thành oán ngẫu, khiến cả hai đau đớn không chịu nổi.
Ngoài chia tay, tôi không nghĩ ra kết cục nào tốt hơn.
Nhìn Hách Viễn Chu nước mắt chảy như tôi, có một thoáng tôi gần như mềm lòng.
Nhưng bảy năm hôn nhân lướt qua đầu tôi như đèn kéo quân.
Tôi tự nhủ, lần này không được mềm lòng nữa.
Vì tình yêu, tôi nhượng bộ hết lần này đến lần khác, tự trói mình trong lo âu được mất.
Tôi sắp không còn nhận ra mình.
Tôi thậm chí suýt quên rằng, ngày trước giấc mơ lớn nhất của tôi là ở mãi trên mảnh đất Nam Dương, tiếp quản đồn điền cao su của cha, phát triển nó, trở thành một thương nhân tử tế, có lương tâm, tự do.
Tôi đã đánh mất bản thân quá lâu.
Giờ phải tìm lại thôi.
“Em thật sự rất sợ… chúng ta càng lúc càng đau khổ, em sợ một ngày nào đó anh sẽ hối hận vì gặp em, anh sẽ hận em.”
Tôi nghẹn ngào, cố giữ cho mình đỡ thảm hại.
“Tương tự, em cũng sợ mình sẽ hận anh…”
Ngày xưa có biết bao kỷ niệm đẹp, em không muốn để chúng bị hận thù phủ lấp.
Vì thế, kết cục tốt nhất là chia tay.
Em từ đâu đến, sẽ trở về nơi ấy.
…
12
Nghỉ ngơi đủ rồi, tôi dùng của hồi môn và khoản bồi thường Hách gia đưa để mua lại với giá cao căn nhà cổ của Trần gia và cả đồn điền cao su.
Đồng thời, tôi thu mua 3 nhà máy, mở thêm một dây chuyền, tự sản xuất tự tiêu thụ.
Năm ấy, Malaysia vẫn đang triển khai Chính sách Kinh tế Mới.
Sự phục hồi của ngành ô tô toàn cầu khiến nhu cầu với cao su thiên nhiên liên tục tăng, Malaysia vẫn là một trong những nước sản xuất cao su lớn nhất thế giới, nhưng quỹ đất khu trung tâm Penang thì có hạn và giá ngày một nhích lên.
Sau 3 năm, cầm “thùng vàng” đầu tiên kiếm được, tôi chuyển sang bờ bên kia của Penang, tiến vào vùng núi nội lục bán đảo Mã Lai.
Đối mặt các công ty trồng trọt quy mô lớn, tiểu điền chủ ở thế yếu cả về định giá lẫn kênh bán.
Tôi không ở mãi vùng an toàn, mà một lòng muốn làm lớn, làm mạnh.
Chăm sóc cây cao su, kỹ thuật cạo mủ, bảo quản mủ, làm việc với thương lái, quản lý công nhân.
Những thứ tôi theo cha học từ nhỏ, nay tôi học lại từ đầu, đến nơi đến chốn.
Thập niên 70, thương trường Malaysia gần như là thiên hạ của đàn ông.
Một phụ nữ, nhất là người Hoa, bước chân vào nông nghiệp sẽ phải đối diện chất vấn, khinh miệt và những bức tường hợp tác dày đặc.
Tôi buộc phải mạnh mẽ tuyệt đối, xuất sắc tuyệt đối, mới giành được sự tôn trọng của người làm vườn cao su và công nhân xưởng.
Lại thêm 3 năm nữa, tôi gần như dốc toàn bộ tích cóp để mua những vùng đất rẻ hơn và liền khoảnh, lập các phân điền.
Quy mô lên rồi, tôi cho chặt dần cây già năng suất thấp, ghép giống mới năng suất cao, kháng virus.
Cải tạo xong giống, tôi bắt đầu tích hợp dọc.
Không bán ồ ạt mủ tươi và cao su tấm nguyên thủy nữa, tôi mở rộng nhà máy chế biến mủ, sản xuất mủ cô đặc và cao su xếp tấm có giá trị cao hơn.
Trong những vườn mới trồng cây con, tôi cho trồng xen dứa và nghệ vàng—cây ngắn ngày nuôi cây dài ngày, tăng dòng tiền.
Cứ thế, tôi liên tục điều chỉnh cách vận hành, từ chỗ chỉ có vài chục mẫu Anh đất, vài chục thợ cạo mủ, thành sở hữu vài trăm mẫu cao su, hơn chục nhà máy chế biến lớn, tạo ra vô số việc làm.
Khoản bồi thường khổng lồ Hách Viễn Chu đưa tôi, rốt cuộc chỉ là để tôi cả đời cơm áo chẳng lo, sống an nhàn xa hoa.
Còn tôi, cuối cùng chọn đánh liều làm sự nghiệp mình muốn.
Dù vô cùng bận rộn, may thay, thành tựu cũng không ít.
Những năm này, tôi và Hách Viễn Chu sợ chạm cảnh sinh tình, không gặp lại lần nào.
Nhưng mỗi năm vẫn có thư qua lại.
Anh đều đặn gửi ảnh con cho tôi.
Ngoài chuyện về con, dường như chúng tôi không còn lý do, cũng chẳng còn vị thế để hỏi thăm nhau.
Theo sự kiên trì của Hách Viễn Chu, vệ sĩ và bảo mẫu nhà Hách hằng năm vẫn hộ tống Ngôn Ngôn sang Penang ở nửa tháng.
Ấy đã là nhượng bộ lớn nhất Hách gia có thể làm.
Năm 16 tuổi, Ngôn Ngôn được gửi sang Singapore học trung học.
Hách gia vốn có truyền thống cho con đi du học trung học và đại học ở nước ngoài.
Chỉ là, từ trước đến nay họ luôn chọn giữa Anh với Mỹ.
Người Cảng Thành nghĩ nát óc cũng không hiểu vì sao Hách Viễn Chu lại cho đứa con duy nhất sang Singapore.
Tựa như, chẳng có lý do nào cả.
Về sau, những chuyện cũ giữa chúng tôi bị moi ra.
Một thời, người ta xì xào thở dài.
Và rốt cuộc cũng hiểu, vì sao kẻ nắm quyền Hách gia cả đời không còn cưới thêm lần nữa.
…
13
Trên đường từ Penang sang Singapore, cứ nghĩ sắp gặp con là tôi không sao kìm nổi nỗi háo hức.
Ngay từ nửa năm trước, biết Ngôn Ngôn sẽ qua đây học phổ thông, tôi đã mua hơn chục căn ở trung tâm Singapore.
Ở căn nào, tùy nó thích.
Chỉ cần nó vui, thay phiên nhau ở tôi cũng không ý kiến.
Với đứa con duy nhất này, tôi và Hách gia chỉ sợ dành cho nó chưa đủ tình thương và nguồn lực.
Tôi biết lần này Ngôn Ngôn qua sẽ có người Hách gia đi cùng.
Chỉ không ngờ, Hách Viễn Chu tự mình đến.
Khoảng cách giữa chúng tôi xa đến vậy, mà chỉ một ánh nhìn, tôi đã nhận ra anh.
Đường đường người thừa kế Hách gia, sau ly hôn từng nói những lời muộn màng, vô dụng như thế.
Trong một khoảnh khắc đối diện ấy, tôi cảm được cơn đau chia biệt dữ dội.
Hóa ra, người từng yêu, thật sự không hợp để gặp lại.
Chua xót dâng đầy lồng ngực.
Nỗi nhớ cũng nghênh ngang trong tim.
Một lát sau, kính cửa bên kia kéo lên, xe từ tốn lăn bánh.
Tôi thấy người ngồi ghế phụ khẽ lau khóe mắt.
Chúng tôi cứ thế, vội vã, chỉ trong vài giây, nhìn nhau một lần.
Đời này kiếp này, có lẽ đó là lần dừng lại cuối cùng vì nhau.
Cũng rất có thể, là lần cuối chúng tôi gặp mặt.
Gió Nam Dương thổi qua, bên tai tôi bỗng vang câu nói năm ấy, khi vừa bên nhau, anh kể tôi nghe.
Anh nói, để gặp tôi một lần, anh rời bến Tsim Sha Tsui ở bán đảo Cửu Long, bước lên tàu của hãng Peninsula & Oriental.
Con tàu rời Cảng Thành xuôi về phía tây, băng qua Biển Đông, men bờ biển Việt Nam, lướt qua vịnh Xiêm La, ghé Bangkok một chốc, rồi vào vịnh Singapore, dừng ở cảng Klang của Kuala Lumpur, cuối cùng tiến vào eo biển Malacca.
Một hành trình ròng rã, anh đến thành phố của tôi, chuyến hải trình dài 7 ngày.
Còn về sau, để được bên anh thật lâu, tôi đã đi trọn cung đường anh từng đi, nhìn hết phong cảnh anh từng ngắm, và ở bên anh 7 năm.
Anh từng vì tôi mà đến, tôi từng vì anh mà đi.
Để bước về phía nhau, chúng tôi đã đem ra tất cả thành ý.
Thôi vậy, tôi thu lại ánh nhìn.
Lúc khởi đầu, tôi đã từng có điều đẹp đẽ nhất.
Duyên phận đã tiêu hao ngay từ khoảnh khắc gặp gỡ.
Kết cục bây giờ, đã là kết cục tốt nhất mà chúng tôi cố hết sức mới có được.
Hách Viễn Chu 22 tuổi và Trần Minh Nguyệt dừng lại trong gió biển eo Malacca năm 1971.
Còn Trần Minh Nguyệt của hiện tại, vẫn phải một mình đi một quãng đường rất dài, rất xa.
Trời sáng trong.
Bước lẻ loi.
Cược cả sinh mệnh.
Đến chết mới thôi.
Chỉ là vương chút tiếc nuối, vào năm chúng tôi yêu nhau nhất, tôi đã quên ghé sát tai anh mà nói, tôi đã yêu anh nhiều đến thế, đến thế.
Gió Nam Dương và gió Cảng Thành đều lớn quá, chúng tôi chẳng ai nghe thấy lời níu kéo và nhớ nhung của người kia.
(hết)